Lễ vu quy là gì? Phân biệt vu quy, tân hôn, thành hôn và cách ghi thiệp cưới cho đúng
· Thiệp Cưới Xinh
Lễ vu quy là gì?
Lễ vu quy là lễ cưới bên nhà gái, ngày gia đình tiễn con gái về nhà chồng. “Vu quy” là từ Hán Việt: “vu” là đi, “quy” là về. Chữ này có từ bài Đào yêu trong Kinh Thi, với câu “chi tử vu quy” nói về người con gái về nhà chồng, nên từ lâu người Việt dùng nó để gọi riêng phần lễ của nhà gái.
Khi nói “lễ vu quy”, người ta có thể đang nói đến một trong hai việc, hoặc cả hai:
- Nghi thức tiễn dâu tại nhà gái: nhà trai sang xin dâu, cô dâu chú rể làm lễ trước bàn thờ tổ tiên nhà gái, cha mẹ dặn dò rồi tiễn con theo đoàn rước dâu.
- Tiệc mừng vu quy: bữa tiệc nhà gái đãi họ hàng, hàng xóm, bạn bè của cha mẹ và cô dâu, có thể làm trước ngày rước dâu, sáng cùng ngày hoặc ở nhà hàng vào hôm khác, tùy nếp nhà.
Điểm cần nhớ: vu quy luôn gắn với nhà gái. Nhà trai không tổ chức “lễ vu quy”.
Lễ tân hôn và lễ thành hôn là gì, có khác nhau không?
“Tân hôn” nghĩa là mới cưới (“tân” là mới, “hôn” là cưới). “Thành hôn” nghĩa là nên vợ nên chồng, việc cưới đã thành. Trên thiệp, cả hai đều dùng để chỉ lễ cưới bên nhà trai: đón dâu về, làm lễ ra mắt tổ tiên nhà chồng, rồi đãi tiệc mừng. Hai tên gọi gần như thay thế được cho nhau, chỉ khác ở thói quen:
- “Lễ Tân Hôn” rất quen thuộc ở miền Nam, gần như là cặp đôi cố định với “Lễ Vu Quy” của nhà gái.
- “Lễ Thành Hôn” phổ biến trên thiệp nhà trai ở miền Bắc, và cũng là tên trung tính khi hai nhà làm chung một tiệc, vì nó nói về việc hai người nên duyên chứ không nghiêng về bên nào.
- Một số gia đình phía Bắc dùng “Lễ Thành Hôn” cho cả thiệp nhà gái. Cách này không sai, nhưng “Lễ Vu Quy” rõ nghĩa hơn khi nhà gái tổ chức riêng.
Nói gọn: vu quy là tiễn đi, tân hôn là đón về, thành hôn là trọn vẹn việc cưới.
Lễ gia tiên, lễ rước dâu, lễ ăn hỏi nằm ở đâu trong đám cưới?
Ba tên gọi này hay xuất hiện cạnh vu quy và tân hôn, nên dễ bị lẫn:
- Lễ ăn hỏi (miền Nam gọi là đám hỏi, lễ đính hôn): nhà trai mang tráp lễ sang nhà gái xin cưới, thường trước ngày cưới vài hôm đến vài tháng. Ở miền Nam, không ít nhà làm lễ hỏi và lễ cưới cùng một ngày hoặc hai ngày liền nhau.
- Lễ rước dâu (miền Bắc hay gọi là đón dâu): đoàn nhà trai đến nhà gái đón cô dâu về, nối lễ vu quy với lễ tân hôn.
- Lễ gia tiên: cô dâu chú rể thắp hương trước bàn thờ tổ tiên để báo việc cưới. Lễ làm ở cả hai nhà, thường chỉ có gia đình và họ hàng gần, và là phần cốt lõi bên trong lễ vu quy lẫn lễ tân hôn.
Thứ tự các lễ trong ngày cưới diễn ra thế nào?
Mỗi nhà có thể thêm bớt, nhưng một ngày cưới truyền thống thường đi theo trình tự sau:
- Nhà trai đến nhà gái đúng giờ đã chọn, đại diện hai bên thưa chuyện xin rước dâu.
- Cô dâu chú rể làm lễ gia tiên nhà gái, chào cha mẹ và họ hàng. Đây là phần chính của lễ vu quy.
- Cha mẹ cô dâu dặn dò, trao quà cưới, rồi tiễn dâu theo đoàn rước.
- Về nhà trai, cô dâu chú rể làm lễ gia tiên, ra mắt họ hàng bên chồng. Một số nơi làm thêm lễ tơ hồng hoặc lễ hợp cẩn.
- Tiệc mừng lễ tân hôn, lễ thành hôn đãi khách nhà trai, tại nhà hoặc nhà hàng, cùng ngày hoặc hôm khác.
Tiệc nhà gái thường đãi trước, tiệc nhà trai đãi sau. Giờ rước dâu do gia đình chọn theo giờ đẹp nên lễ hay diễn ra từ sáng sớm, còn tiệc để trưa hoặc tối.
Miền Bắc, miền Trung, miền Nam có gọi và tổ chức khác nhau không?
Có, dù tinh thần chung vẫn giống nhau. Đây là những khác biệt thường gặp, không phải quy tắc cho mọi nhà:
- Miền Bắc: nhà trai ghi “Lễ Thành Hôn”, nhà gái ghi “Lễ Vu Quy”, một số nhà dùng “Lễ Xuất Giá”, cũng mang nghĩa con gái đi lấy chồng. Tiệc trưa rất phổ biến, ở nhà hàng hoặc dựng rạp tại nhà. Thiệp hay có câu “Hôn lễ được cử hành tại gia đình vào hồi…” rồi mới đến giờ tiệc.
- Miền Trung: nhiều gia đình, nhất là ở Huế, giữ nghi lễ tại tư gia khá kỹ và rất coi trọng ngày giờ âm lịch. Nhà gái ghi “Lễ Vu Quy”, nhà trai ghi “Lễ Thành Hôn” hoặc “Lễ Tân Hôn” tùy nếp từng nhà.
- Miền Nam: cặp “Lễ Vu Quy” và “Lễ Tân Hôn” gần như mặc định. Tiệc tối ở nhà hàng rất phổ biến, hai nhà thường đãi riêng, có khi cách nhau một hai ngày.
Khi cô dâu chú rể khác vùng, mỗi bên cứ ghi thiệp theo nếp nhà mình, vì khách nhà nào đọc thiệp nhà đó.
Thiệp cưới nhà trai và nhà gái ghi khác nhau thế nào?
Khi hai nhà tổ chức riêng, mỗi bên in thiệp riêng, đứng tên cha mẹ bên mình và mời khách bên mình. Khác biệt nằm ở tên lễ và thứ tự tên:
- Thiệp nhà gái ghi “Lễ Vu Quy”, tên cô dâu đứng trước, kèm thứ bậc như trưởng nữ, thứ nữ, út nữ.
- Thiệp nhà trai ghi “Lễ Tân Hôn” hoặc “Lễ Thành Hôn”, tên chú rể đứng trước, kèm trưởng nam, thứ nam, út nam.
- Thiệp truyền thống thường in tên cha mẹ hai bên song song, nhà trai bên trái, nhà gái bên phải, giọng văn là của cha mẹ, xưng “chúng tôi”.
Mẫu thiệp nhà gái:
- Ông Lê Văn Bình – Bà Nguyễn Thị Hoa trân trọng báo tin lễ vu quy của con gái chúng tôi: Lê Thu Hà (trưởng nữ), sánh duyên cùng Phạm Minh Đức.
- Lễ vu quy cử hành tại tư gia lúc 8 giờ 30, Chủ Nhật 13/12/2026 (tức ngày 5 tháng 11 năm Bính Ngọ).
- Trân trọng kính mời … đến dự tiệc mừng vu quy lúc 18 giờ, Thứ Bảy 12/12/2026 (tức ngày 4 tháng 11 năm Bính Ngọ), tại [nhà hàng, sảnh, địa chỉ].
Mẫu thiệp nhà trai:
- Ông Phạm Quốc Toàn – Bà Đỗ Thị Lan trân trọng báo tin lễ tân hôn của con trai chúng tôi: Phạm Minh Đức (thứ nam), sánh duyên cùng Lê Thu Hà.
- Lễ tân hôn cử hành tại tư gia lúc 10 giờ, Chủ Nhật 13/12/2026 (tức ngày 5 tháng 11 năm Bính Ngọ).
- Trân trọng kính mời … đến dự tiệc mừng lễ tân hôn lúc 11 giờ 30 cùng ngày, tại [nhà hàng, sảnh, địa chỉ].
Với bạn chung của hai người, hãy thống nhất trước ai mời ai, để không ai nhận hai thiệp mà không biết nên dự tiệc nào.
Hai nhà tổ chức chung một tiệc thì ghi thiệp ra sao?
Nhiều đôi chọn làm lễ gia tiên riêng ở mỗi nhà rồi đãi chung một tiệc. Tiệc lúc này không còn của riêng bên nào, nên tránh ghi “vu quy” hay “tân hôn”. Cách an toàn là dùng “Lễ Thành Hôn” hoặc “Tiệc Cưới”, để cả hai nhà cùng đứng tên:
- Ông Phạm Quốc Toàn – Bà Đỗ Thị Lan và Ông Lê Văn Bình – Bà Nguyễn Thị Hoa trân trọng báo tin lễ thành hôn của hai con chúng tôi: Phạm Minh Đức và Lê Thu Hà.
- Trân trọng kính mời … đến dự tiệc mừng lễ thành hôn lúc 18 giờ, Chủ Nhật 13/12/2026 (tức ngày 5 tháng 11 năm Bính Ngọ), tại [nhà hàng, sảnh, địa chỉ].
Thiệp chung thường để nhà trai và chú rể trước, nhưng hai nhà có thể tự thống nhất, nhất là khi nhà gái đứng ra lo tiệc.
Với thiệp cưới online, việc này càng gọn: một đường link gửi qua Zalo hay Messenger có thể tách riêng giờ, địa điểm của lễ gia tiên và của tiệc, kèm bản đồ Google Maps và nút xác nhận tham dự. Họ hàng gần biết giờ làm lễ, còn bạn bè, đồng nghiệp chỉ cần nhìn giờ tiệc.
Ghi ngày âm lịch trên thiệp cưới thế nào cho đúng?
Ngày âm lịch thường đặt ngay dưới ngày dương, trong ngoặc, theo dạng “(Tức ngày 5 tháng 11 năm Bính Ngọ)”. Vài điểm cần để ý:
- Tháng 11 âm lịch còn gọi là tháng Một, tháng 12 là tháng Chạp, tháng 1 là tháng Giêng.
- Năm âm lịch không đổi cùng năm dương. Đám cưới Thứ Bảy 23/1/2027 vẫn thuộc năm Bính Ngọ, tức ngày 16 tháng Chạp, vì Tết Đinh Mùi rơi vào 6/2/2027.
- Nếu ngày cưới rơi vào tháng nhuận, ghi rõ chữ “nhuận”, chẳng hạn “tháng 6 nhuận”.
- Khi lễ và tiệc khác ngày, ghi ngày âm cho cả hai.
Thiệp trên Thiệp Cưới Xinh có thể hiển thị ngày âm lịch ngay dưới ngày dương. Dù vậy, hãy so lại với lịch hoặc tờ giấy xem ngày của gia đình trước khi gửi, vì đây là dòng ông bà đọc kỹ nhất.
Những lỗi hay gặp khi ghi tên lễ trên thiệp cưới
- Nhà gái ghi “Lễ Tân Hôn”: hay gặp khi hai bên dùng chung một mẫu rồi quên sửa. Tân hôn là lễ đón dâu của nhà trai, thiệp mời khách nhà gái phải là “Lễ Vu Quy”.
- Nhà trai ghi “Lễ Vu Quy”: lỗi ngược lại, người lớn đọc là nhận ra ngay.
- Sửa tên lễ nhưng quên đảo thứ tự: thiệp nhà gái mà tên chú rể vẫn đứng trước.
- Ghi “vu quy” trên tiệc chung, khiến khách nhà trai tưởng mình đi nhầm tiệc.
- Gộp giờ lễ và giờ tiệc làm một, khách đến từ 8 giờ sáng trong khi 11 giờ mới khai tiệc.
- Ghi sai năm âm lịch cho đám cưới tháng 1, đầu tháng 2 dương lịch.
- Lúc viết “vu quy”, lúc viết “vu qui” trên cùng một thiệp. Cả hai cách đều được chấp nhận, chỉ cần thống nhất.
Trước khi gửi, hãy đọc lại thiệp cùng bố mẹ: tên lễ đúng bên chưa, thứ tự tên đúng chưa, ngày âm khớp chưa.


